Người bệnh ung thư vú đa ổ giờ đây có thể lựa chọn một cách thức phẫu thuật ít xâm nhập hơn với cắt thuỳ vú kết hợp xạ trị thay vì cắt toàn bộ tuyến vú. Đây là nhận định rút ra từ một nghiên cứu mới được công bố gần đây tại hội nghị ung thư vú San Antonio 2022 (Abstract GS4-01).
Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện tại, tần suất bắt gặp người bệnh ung thư vú được chẩn đoán đa ổ đang gia tăng đáng kể khi một phương tiện hình ảnh có độ nhạy cao, MRI tuyến vú đã trở nên phổ biến. Tuy nhiên, các nhà lâm sàng chưa có nhiều dữ liệu nghiên cứu hướng dẫn cách xử trí trước những tình huống này, vì thế lựa chọn cắt tuyến vú toàn bộ thường được đề xuất đến người bệnh. Cho đến nay, chưa có thử nghiệm lâm sàng tiến cứu nào đánh giá tỷ lệ tái phát của điều trị bảo tồn vú (Breast-conserving therapy) trên những bệnh nhân có tồn thương đa ổ cùng bên vú.
“Với một cuộc mổ nhẹ nhàng hơn, hồi phục nhanh chóng, những ghi nhận tốt hơn về mức độ hài lòng của người bệnh và kết quả thẩm mỹ, cắt thuỳ vú theo sau bởi xạ trị thường được ưu tiên hơn cắt toàn bộ tuyến vú”. Dẫn lời tác giả nghiên cứu TS. Judy C.Boughey, Mayo Clinic.

ACOSOG Z11102 (Alliance) là một thử nghiệm lâm sàng tiến cứu, pha II, trên 204 phụ nữ độ tuổi >=40 với 2 hoặc 3 khối u cùng một bên vú, giữa các khối u được phân biệt rõ bởi các khoảng mô vú lảnh. Các bệnh nhân được điều trị với cắt thuỳ vú và xạ trị bổ trợ toàn vú cùng tăng cường liều tại tất cả vị trí giường u. Chỉ tiêu nghiên cứu chính là tỷ lệ tái phát tại chỗ tại thời điểm 5 năm sau khi kết thúc xạ trị.
Sau thời gian theo dõi trung vị 66,4 tháng, 6 trường hợp được xác định tái phát. Tỷ lệ tái phát trong 5 năm của nhóm đối tượng nghiên cứu là 3,1%, tương đồng với kết quả ghi nhận được sau cắt thuỳ vú cho các trường hợp có 1 khối u đơn độc.
Một phát hiện quan trọng khác của nghiên cứu này là tỷ lệ tái phát thấp hơn ở nhóm những bệnh nhân có MRI trước mổ. Kết quả này được lý giải bằng lập luận những dữ kiện giá trị từ MRI giúp phẫu thuật viên xác định hiệu quả hơn vùng mô vú cần loại bỏ. Trong số 15 bệnh nhân không có MRI, tỷ lệ tái phát được ghi nhận 22,6%, so với 1,7% với 189 bệnh nhân có MRI trước mổ. Nguy cơ tái phát tại chỗ không cho thấy mối liên hệ với độ tuổi, số lượng tổn thương vú, sinh học khối u hay phân loại giai đoạn bệnh sau mổ.
Không có trường hợp nào tái phát tại vùng. Tuy nhiên, 4 bệnh nhân xuất hiện di căn xa, 6 bệnh nhân tiếp tục có chẩn đoán ung thư vú đối bên, 3 trường hợp mắc thêm một bệnh lý ác tính thứ hai ngoài vú, 8 trường hợp đã mất, bao gồm 1 liên quan đến ung thư vú.
TS. Boughey cho rằng kết quả thử nghiệm này cũng gợi mở rằng người bệnh có chẩn đoán ung thư vú từ hai ổ tổn thương trở lên khi được cân nhắc điều trị bảo tồn vú có thể hưởng lợi từ MRI tuyến vú.
Một hạn chế của nghiên cứu này nằm ở thiết kế đơn nhánh của nó. “Một thiết kế thử nghiệm ngẫu nhiên sẽ có thể mang lại dữ liệu giá trị mạnh mẽ hơn, tuy nhiên, chúng tôi cảm thấy quá trình tuyển chọn bệnh nhân cho một thiết kế nghiên cứu như vậy sẽ là vấn đề quan trọng cần xét đến, khi mà nhiều bệnh nhân và phẫu thuật viên sẽ không sẵn sàng để được phân nhánh ngẫu nhiên.” TS Boughey nhận định thêm.
Các tác giả kết luận rằng với những bệnh nhân với ung thư vú đa ổ cùng bên, phẫu thuật bảo tồn vú cùng xạ trị bổ trợ toàn vú và tăng liều tại giường u có thể là một cân nhắc hợp lý cho những trường hợp có 2 đến 3 ổ tổn thương u.
