BSNT. Trần Trung Bách
Thử nghiệm ngẫu nhiên pha III dưới đây cho thấy xạ trị một phần vú (Partial breast irradiation – PBI) không làm tăng nguy cơ xơ cứng tuyến vú, phù, rối loạn sắc tố, giãn mạch dưới da hay đau vú so với xạ trị toàn bộ vú ở những bệnh nhân ung thư vú cao tuổi, giai đoạn sớm, không di căn hạch, có nguy cơ tái phát thấp sau phẫu thuật bảo tồn vú. Kích cỡ vú lớn đi kèm với tăng nguy cơ xơ cứng vú sau xạ.
PBI với phác đồ giảm số phân liều trung bình (Moderately hypofractionated PBI) được khuyến cáo như một lựa chọn chuẩn cho những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm thoả mãn các tiêu chuẩn sau: Tuổi >= 60, pT1N0 sau phẫu thuật bảo tồn vú, đơn ổ, không phải thể tiểu thuỳ, ER+, HER2-, độ mô học 1-2, diện cắt >= 2mm.
Jing Xi, MD, MPH
Nội dung chính
Giới thiệu
Dựa trên những dữ kiện bằng chứng cho thấy nguy cơ tái phát thấp của ung thư vú giai đoạn sớm ở bệnh nhân cao tuổi sau điều trị phẫu thuật bảo tồn kết hợp xạ trị bổ trợ toàn vú (Whole breast irradiation – WBI), Nhóm ung thư vú Đan Mạch (Danish Breast Cancer Group) tiến hành một thử nghiệm không kém hơn với chiến lược xạ trị một phần vú (PBI). Nhà nghiên cứu đặt ra giả thiết PBI không kém hơn WBI về khía cạnh nguy cơ xơ cứng vú sau xạ.
Phương pháp
Các bệnh nhân ung thư vú, tuổi >= 60, giai đoạn sớm, nguy cơ thấp, đã trải qua phẫu thuật bảo tồn vú, được phân nhóm ngẫu nhiên nhận điều trị bổ trợ với WBI hay PBI, đều với phác đồ 40 Gy trong 15 phân liều. Chỉ tiêu nghiên cứu chính là tỷ lệ xơ cứng vú độ 2 – 3 sau 3 năm.
Ung thư vú nguy cơ thấp: Giai đoạn sớm (pT1, N0, M0), một bên vú, đơn ổ, độ mô học 1 hoặc 2, thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính, không phải ung thư biểu mô tiểu thuỳ.
Phân độ xơ cứng vú sau xạ trị:
– Độ 0: Không xơ cứng
– Độ 1: Xơ cứng nhẹ, có thể phát hiện qua thăm khám bằng tay
– Độ 2: Xơ cứng rõ, phát hiện qua thăm khám bằng tay
– Độ 3: Xơ cứng mạnh, co kéo da, cố định vú
Kết quả
Tổng số 865 bệnh nhân phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn đã tham gia vào nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến 2016: 434 WBI và 431 PBI.
Trung vị thời gian theo dõi: 5 năm (Các biến chứng) và 7.6 năm (Tái phát tại chỗ, tại vùng).
Tỷ lệ xơ cứng vú sau 3 năm được báo cáo là 9.7% ở nhóm WBI so với 5.1% ở nhóm PBI, p = 0.014. Nhóm bệnh nhân có kích cỡ vú lớn ghi nhận tình trạng xơ cứng vú sau xạ cao hơn đáng lưu ý: 13% (WBI) và 6% (PBI), so với nhóm có kích cỡ vú nhỏ: 6% (WBI) và 5% (PBI).
Kích cỡ vú lớn: Thể tích bia lâm sàng CTVp_Breast >= 600 ml
PBI cho thấy không làm tăng nguy cơ xuất hiện rối loạn sắc tố da, giãn mạch dưới da, phù nề hay đau vú sau xạ trị cùng với tỷ lệ cao người bệnh hài lòng với kết quả điều trị.
Letrozole và thuốc lá không đi kèm với tăng nguy cơ các độc tính của tia xạ.
16 bệnh nhân đã được chẩn đoán tái phát tại chỗ tại vùng, trong đó, 6 WBI và 10 PBI, p= 0.28. 20 bệnh nhân xuất hiện ung thư vú đối bên và 8 bệnh nhân tái phát di căn xa (5 WBI và 3 PBI).
Ung thư thứ hai không phải vú được phát hiện ở 73 bệnh nhân (8.4%), và không có sự khác biệt giữa các dưới nhóm theo chiến lược xạ trị.
Kết luận
Xạ trị chiếu ngoài một phần vú (PBI) ở những bệnh nhân ung thư vú nguy cơ thấp cho kết quả không kém hơn xạ trị toàn vú xét về khía cạnh độc tính xơ cứng vú sau xạ. Kích cỡ vú lớn là một yếu tố nguy cơ của xơ cứng vú sau xạ. Một số ít trường hợp tái phát được ghi nhận, không cho thấy mối liên quan đến PBI.
