Bổ sung xạ trị giúp cải thiện sống thêm cho người bệnh ung thư gan giai đoạn tiến xa

bởi Trần Trung Bách
491 lượt xem

Link bài viết gốc: https://appliedradiationoncology.com/articles/radiation-added-to-systemic-therapy-extends-survival-in-advanced-liver-tumor-patients

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên pha III được báo cáo tại hội nghị thường niên của Hội xạ trị Hoa Kỳ năm 2022, cho thấy bổ sung xạ trị vào cùng liệu pháp toàn thân trên các bệnh nhân ung thư gan giai đoạn tiến xa có thể kéo dài thời gian sống thêm toàn bộ và trì hoãn tiến triển của khối u mà không có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống. Những kết quả của thử nghiệm NRG Oncology/RTOG 1112 (NCT01730937) đưa đến khuyến nghị xạ trị nên được xem là lựa chọn điều trị tiêu chuẩn cho những bệnh nhân ung thư gan không còn khả năng phẫu thuật và các liệu pháp tại chỗ-tại vùng tiêu chuẩn khác.

“Kết hợp xạ trị và sorafenib cho thấy có hiệu quả hơn sorafenib đơn thuần trên mọi khía cạnh”, dẫn lời của TS. Laura A Dawson (FASTRO), tác giả chính của nghiên cứu, đồng thời là giáo sư xạ trị tại Đại học Toronto, thực hành tại trung tâm ung thư Princess Margaret (Toronto).

Ung thư gan là một trong những bệnh lý ung thư được chẩn đoán nhiều nhất và đứng hàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới. Tỷ lệ mới mắc của ung thư biểu mô tế bào gan (HCC), thể thường gặp nhất của ung thư gan, đã tăng gấp 3 lần tại Mỹ kể từ năm 1980. Tỷ lệ tử vong do bệnh cũng tiếp tục gia tăng mặc cho các nỗ lực sàng lọc và cải tiến hiệu quả điều trị các bệnh lý làm tăng nguy cơ mắc ung thư gan.

Điều trị toàn thân là lựa chọn tiêu chuẩn cho các bệnh nhân HCC không còn phù hợp với chỉ định phẫu thuật hoặc các can thiệp xâm nhập khác. Ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích của xạ trị ở nhóm bệnh nhân này. Thử nghiệm bởi Dawson là nghiên cứu ngẫu nhiên đầu tiên tại khu vực Bắc Mỹ tập trung vào vai trò của xạ trị trên bệnh nhân ung thư gan giai đoạn tiến triển.

193 bệnh nhân được tuyển chọn vào nghiên cứu (177 trường hợp phù hợp để phân tích), có chẩn đoán HCC giai đoạn tiến triển (Mới phát hiện hay tái phát), không thể phẫu thuật cắt gan hoặc các can thiệp tại chỗ tiêu chuẩn do các yếu tố lâm sàng kết hợp hoặc do bệnh tiến triển sau các trị liệu tiêu chuẩn. Hầu hết bệnh nhân có tình trạng khối u xâm lấn các mạch máu lớn của gan (Yếu tố tiên lượng tồi), và một số ít trường hợp có di căn ngoài gan. Trung vị tuổi là 66 (Khoảng 27 – 84).

Các bệnh nhân tham gia thử nghiệm được phân ngẫu nhiên tại 23 trung tâm của Mỹ và Canada, nhận điều trị sorafenib đơn thuần hoặc theo sau xạ trị định vị lập thể thân (SBRT). Sorafenib là liệu pháp toàn thân tiêu chuẩn tại thời điểm nghiên cứu bắt đầu. SBRT được thực hiện trong 5 phân liều trong 5 đến 10 ngày, với tổng liều trong khoảng 27,5 đến 50 Gy, được quyết định dựa trên các yếu tố lâm sàng của mỗi người bệnh.

Thời gian sống thêm toàn bộ dài hơn ở những bệnh nhân nhận được phác đồ kết hợp SBRT và sorafenib, so với sorafenib đơn thuần: 15,8 so với 12,3 tháng, p một phía 0,055. Sự khác biệt này trở nên có ý nghĩa thống kê sau khi kiểm soát các yếu tố lâm sàng ảnh hưởng như chỉ số toàn trạng và mức độ xâm lấn mạch máu (p = 0,042).

“Có một chút tham vọng khi lựa chọn chỉ tiêu nghiên cứu chính là sống thêm toàn bộ, nhưng khi thiết kế đề cương thử nghiệm này, có rất ít lựa chọn cho điều trị toàn thân ung thư gan giai đoạn tiến triển không còn phù hợp với các can thiệp tại chỗ, và chúng tôi có những tín hiệu mạnh mẽ từ các dữ liệu trước đó gợi ý bổ sung SBRT cùng sorafenib có thể cải thiện kết quả kiểm soát u và mang lại lợi ích về sống thêm”, nhận định của TS Dawson. “Chúng tôi, giờ đây, đã có thể không do dự nói rằng xạ trị là một trị liệu hiệu quả cho bệnh nhân ung thư gan không còn cơ hội phẫu thuật. Kết quả điều trị tốt hơn ở nhánh SBRT, mặc dù thời điểm bắt đầu sử dụng sorafenib được trì hoãn ở nhóm bệnh nhân này.”

Thời gian sống thêm không bệnh tiến triển đã được cải thiện khi bổ sung SBRT, từ 5,5 tháng với sorafenib đơn thuần lên đến 9,2 tháng ở nhánh kết hợp (HR = 0,92, p<0,001). Những bệnh nhân có nhánh điều trị kết hợp cũng có khoảng thời gian đến khi bệnh tiến triển dài hơn (18,5 so với 9,5 tháng; HR = 0,69, p=0,034).

Những ghi nhận về tác dụng phụ liên quan đến điều trị không có sự khác biệt giữa các nhánh nghiên cứu. 42% bệnh nhân nhánh sorafenib và 47% nhánh điều trị kết hợp gặp phải tác dụng phụ mức độ nặng (Độ 3 trở lên), có 1 trường hợp tử vong do tác dụng phụ ở nhánh sorafenib đơn thuần.

Trong khi nghiên cứu này chỉ được thiết kế để theo dõi các bệnh nhân trong thời hạn 5 năm, TS Dawson cho biết còn ghi nhận những trường hợp nhận được lợi ích dài hạn tại phòng khám của bà. “Một số bệnh nhân đã được SBRT trong thử nghiệm này vẫn tiếp tục quay trở lại phòng khám của tôi sau hơn 5 năm và vẫn trong tình trạng rất ổn.”

Nghiên cứu đã được kết thúc giai đoạn tuyển chọn bệnh nhân sớm hơn dự định, chủ yếu do những thay đổi trong chiến lược điều trị toàn thân HCC giai đoạn tiến xa. Trước năm 2016, sorafenib vẫn là lựa chọn đầu tay duy nhất được FDA chấp thuận, nhưng kể từ đó, một số thuốc nhắm đích phân tử và gần đây hơn, các thuốc ức chế chốt kiểm soát miễn dịch đã giành được vị trí lựa chọn điều trị tiêu chuẩn.

TS Dawson hy vọng những phát hiện này sẽ thu hút nhiều hơn sự quan tâm đến lợi ích của xạ trị kết hợp cùng các liệu pháp nội khoa mới trong các thử nghiệm lâm sàng trong tương lai. “Ngày càng có nhiều hơn những nghiên cứu tiền lâm sàng, lâm sàng sớm gợi mở rằng SBRT có tác động cộng hưởng với liệu pháp miễn dịch”, TS Dawson nhận định.

Những câu hỏi vẫn còn để ngỏ bao gồm phác đồ liều xạ tối ưu và trình tự phối hợp thực hiện xạ trị và các liệu pháp khác, cũng như liệu xạ trị đơn thuần có mang lại lợi ích cho các bệnh nhân, thậm chí, không còn phù hợp với các điều trị tiêu chuẩn.

Những bài viết liên quan

Để lại bình luận

Quý độc giả lưu ý: Chuyên trang có các nội dung dành riêng cho NHÂN VIÊN Y TẾ.
Tôi đã hiểu và đồng ý truy cập nội dung