Simran Polce, BS; Collin Noldner, MD; Sandeep Ailawadi, MS, CMD; Samuel Ryu, MD; Alexander Stessin, MD, PhD
Nội dung chính
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Sự hiện diện của mô tuyến vú phụ (Accessory Breast Tissue – ABT) đã được đề cập trong y văn. Tương tự như tuyến vú chính, tuyến vú phụ cũng có nguy cơ phát sinh ung thư. Tuy nhiên, hiện nay vẫn có nhiều khoảng trống dữ liệu và kinh nghiệm hướng dẫn các nhà lâm sàng đưa ra những lựa chọn tối ưu trong điều trị ung thư ABT. Đặc biệt, vai trò của xạ trị bổ trợ trong điều trị ung thư ABT vẫn chưa có sự đồng thuận rõ ràng giữa các hướng dẫn điều trị.
Phương pháp: Chúng tôi tiến hành hồi cứu lại những trường hợp ung thư ABT và phương pháp điều trị được đề cập trong y văn. Đồng thời, chúng tôi truy vấn lại dữ liệu các bệnh nhân (BN) ung thư vú được điều trị tại cơ sở của mình và xác định 3 trường hợp ung thư ABT được chỉ định xạ trị bổ trợ.
Kết quả: Chúng tôi trình bày 3 trường hợp ung thư ABT được chỉ định xạ trị bổ trợ tại cơ sở của mình. Hai trường hợp đầu tiên là các trường hợp ung thư biểu mô thể ống xâm nhập giai đoạn I với thụ thể nội tiết ER/PR dương tính và HER2 âm tính ở phụ nữ sau mãn kinh. Trong đó, một BN nhận được điều trị bổ trợ duy nhất là điều trị nội tiết, BN còn lại được điều trị xạ trị bổ trợ siêu giảm phân liều 2600 cGy/5 phân liều. Trường hợp thứ ba là ung thư biểu mô thể ống xâm nhập giai đoạn tiến triển tại chỗ tại vùng với ER/PR dương tính, HER-2 âm tính ở một phụ nữ tiền mãn kinh. BN này nhận được xạ trị bổ trợ nách và hạch vùng và để tăng cường liều vào giường khối u ở nách. Ở mỗi trường hợp, chúng ta sẽ thảo luận về chỉ định xạ trị, liều và xác định thể tích xạ trị.
Kết luận: Khi đưa ra lựa chọn điều trị cho BN ung thư ABT, các nhà lâm sàng phải đối mặt với một số câu hỏi chưa có câu trả lời từ dữ liệu hiện tai. Các báo cáo loạt ca bệnh và tổng quan tài liệu như nghiên cứu này có thể cung cấp những góc nhìn căn bản trong việc xem xét các lựa chọn điều trị trong những trường hợp khó khăn này.
Từ khóa: tuyến vú phụ (accessory breast tissue, ectopic breast tissue, supernumerary breast tissue, axillary breast tissue), xạ trị bổ trợ
Hầu hết tuyến vú phụ phát triển dọc theo “đường sữa” (milk line) và phân loại tuyến vú phụ hiện hành được phát triển dựa trên phân loại của Kajava vào năm 1915. Đa số các trường hợp đều có sự xuất hiện của núm vú phụ nhưng không có nhu mô tuyến ống có chức năng. Tuy nhiên, một số tác giả đã báo cáo về các trường hợp tuyến vú phụ có đầy đủ chức năng như vú bình thường, bao gồm cả sản xuất sữa.1 Tương tự như nhu mô tuyến vú bình thường, ung thư cũng có thể phát sinh tại ABT nhưng dữ liệu về tỷ lệ mắc và điều trị ung thư ABT còn khá hạn chế. Chưa có hướng dẫn tiếp cận các trường hợp này về khía cạnh xạ trị bổ trợ. Trong bài này, chúng tôi trình bày 3 trường hợp ung thư biểu mô ABT đã được phẫu thuật cắt bỏ, mô tả 3 cách tiếp cận chỉ định xạ trị bổ trợ, tóm tắt các tài liệu hiện hành và thảo luận để đưa ra những hướng dẫn trong các tình huống ít gặp này.
CÁC TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG
Trường hợp số 1
Bệnh nhân nữ, 61 tuổi, đã mãn kinh, tiền sử sản khoa: 1 lần mang thai, 1 con sống khỏe mạnh. BN được chẩn đoán ABT hai bên tại vùng nách cách vài năm. Trước đây, BN đã được thực hiện sinh thiết kim với kết quả lành tính. Tháng 3/2021, BN kiểm tra định kỳ và được chỉ định chụp X-quang tuyến vú với kết quả là hình ảnh 9 ổ vôi hóa ở ABT nách phải (Hình 1). Trên lâm sàng, BN không có bất kỳ triệu chứng nào.

Hình 1: Xquang vú trước phẫu thuật tư thế chếch trong ngoài – đầu đuôi (mediolateral oblique-craniocaudal view – MLO-CC) bên phải
BN được sinh thiết và cho kết quả mô bệnh học là ung thư biểu mô ống xâm nhập biệt hóa vừa; thụ thể nội tiết ER và PR dương tính, HER-2 âm tính, Ki-67 8%, giai đoạn lâm sàng cT1N0. Nhóm phẫu thuật ung thư vú thực hiện phẫu thuật cắt bỏ ABT và sinh thiết hạch cửa cho BN vào tháng 4/2021. Giải phẫu bệnh sau mổ xác định tổn thương ung thư biểu mô thể ống xâm nhập (IDC) đường kính lớn nhất 20 mm, ung thư biểu mô thể ống tại chỗ (DCIS) đường kính lớn nhất 5 cm. Các diện cắt đáy và diện cắt bên được đánh giá bằng quan sát trực tiếp tổ chức mô sâu ngay bên dưới cơ ngực lớn và phía bên của cơ lưng rộng, tương ứng. Tất cả diện cắt đều âm tính với ung thư biểu mô (IDC và DCIS), khoảng cách tối thiểu 1 cm.
Đặc điểm phân tử của bệnh phẩm sau phẫu thuật tương đồng kết quả sinh thiết trước điều trị và điểm Oncotype Dx Recurrence là 1. Ngoài ra, sinh thiết hạch cửa cho kết quả âm tính (0/1) và giai đoạn bệnh sau mổ là pT1N0. Sau phẫu thuật, BN có tình trạng tụ dịch vùng mổ cần được chọc hút nhiều lần dẫn đến dải xơ cứng có thể sờ thấy ở vùng nách. BN được chỉ định liệu trình letrozole trong 5 năm.
Sau đó, BN được chuyển sang khoa xạ trị để xem xét chỉ định xạ trị bổ trợ. Tại đây, 2 lựa chọn điều trị được đưa ra: 1) Chỉ xạ trị vào vùng nách, do không có sự liên quan về mặt giải phẫu giữa ABT và nhu mô tuyến vú chính; hoặc 2) Không xạ trị, do toàn bộ nhu mô tuyến vú phụ đã được cắt bỏ với diện cắt âm tính. Sau khi thảo luận, BN quyết định không xạ trị. Vào thời điểm viết bài báo này, BN đã hoàn thành thời gian theo dõi 18 tháng trên chẩn đoán hình ảnh và 15 tháng trên lâm sàng. BN dung nạp tốt với letrozole, ít tác dụng phụ và X-quang tuyến vú hai bên cho thấy bệnh không tái phát.
Trường hợp số 2
Bệnh nhân nữ, 76 tuổi, đã mãn kinh, tiền sử sản khoa: 3 lần mang thai, 2 lần sinh con khỏe mạnh, chưa bao giờ được chẩn đoán ABT trước đó. Trong những năm qua, BN đã được sinh thiết 2 lần một tổn thương nghi ngờ trên X-quang tuyến vú nhưng đều có kết quả âm tính. Tháng 11/2021, BN được chụp X-quang tuyến vú hai bên định kỳ, phát hiện được một khối không đối xứng, kích thước 12 mm ở nách phải (Hình 2A). Sinh thiết tại vị trí nghi ngờ cho kết quả ung thư biểu mô thể ống xâm nhập biệt hóa cao, ER/PR dương tính, HER-2 âm tính và Ki-67 5%.
BN được đánh giá với nhóm phẫu thuật ung thư vú và trải qua phẫu thuật cắt rộng u tại chỗ với sự hỗ trợ của SAVI SCOUT (Merit Medical) kết hợp sinh thiết hạch cửa. Phân tích giải phẫu bệnh cho thấy bệnh phẩm mổ là mô tuyến vú phụ với 1 ổ tổn thương IDC 1,8 cm, cách diện cắt trước 0,2 mm, diện cắt sau < 1 mm và diện cắt dưới 1,5 mm. Các diện cắt trên, dưới, trong, ngoài, trước và sau có kích thước tối thiểu 1,0 x 1,0 x 0,5 cm, chỉ gồm nhu mô tuyến vú lành hay mô xơ mỡ lành tính. Tất cả diện cắt cuối cùng và kết quả sinh thiết hạch cửa đều âm tính. Phân tích hồ sơ phân tử bệnh phẩm mổ cho kết quả tương đồng với bệnh phẩm sinh thiết trước đó, và điểm tái phát Oncotype Dx là 16.
Chẩn đoán xác định là ung thư biểu mô ABT thể ống xâm nhập pT1cN0. Tiếp theo đó, BN được chỉ định bắt đầu điều trị anastrozole và chuyển sang khoa xạ trị để xem xét chỉ định xạ trị bổ trợ. Tương tự như ở trường hợp 1, BN này cũng được đề xuất 2 lựa chọn điều trị: Xạ trị bổ trợ chỉ tại vùng nách hoặc không xạ trị do toàn bộ ABT đã được cắt bỏ triệt để. Sau khi thảo luận, BN lựa chọn xạ trị vào vùng nách với liệu trình 2600 cGy trong 5 phân liều (Hình 2B-C). Tại thời điểm báo cáo, BN đã hoàn thành theo dõi 9 tháng trên hình ảnh và 10 tháng trên lâm sàng. BN dung nạp tốt với anastrozole với ít tác dụng phụ và X-quang tuyến vú 2 bên không có hình ảnh tái phát.

Hình 2: A) X-quang tuyến vú MLO-CC phải trước phẫu thuật với tổn thương được khoanh tròn màu vàng. Kế hoạch điều trị với thể tích bia lập kế hoạch được khoanh màu tím trên các mặt phẳng B) ngang (axial), C) đứng ngang (coronal) và D) đứng dọc (sagittal).
Trường hợp số 3
Bệnh nhân nữ, 33 tuổi, tiền mãn kinh, tiền sử sản khoa: 1 lần mang thai, 1 lần sinh con khỏe mạnh. BN mô tả lần đầu tiên có triệu chứng căng tức vùng nách 2 bên vào lúc mang thai năm 2019. Trong thời gian cho con bú, BN có thể vắt sữa từ tuyến vú phụ vùng nách. Tình trạng căng tức vùng nách bên phải vẫn tồn tại sau khi BN ngừng cho con bú và BN có thể cảm nhận được có một khối ở nách phải. Tháng 8/2021, kết quả siêu âm cho thấy một khối giảm âm kích thước 12mm ở vị trí đuôi nách phải và 2 hạch giảm âm với kích thước lần lượt là 13mm và 16mm (BIRADS 3).
Siêu âm và X-quang tuyến vú (Hình 4A) vào tháng 11/2021 cho thấy một khối dạng tua gai bờ không đều kích thước 17mm ở đuôi nách phải. Ngoài ra, ở nách phải còn tìm thấy có một khối tua gai không đều thứ hai có kích thước 12mm nghĩ đến là hạch bạch huyết. Sinh thiết khối đuôi nách phải cho kết quả IDC kém biệt hóa, kích thước 14mm, vôi hóa, ER 82%, PR 35%, HER-2 dương tính 3+ và Ki-67 43%. Kết quả PET cho thấy hình ảnh tăng chuyển hóa ở vùng đuôi nách phải tương ứng với tổn thương nguyên phát và tăng chuyển hóa nhiều hạch nách phải phù hợp với hạch di căn (Hình 3). Chẩn đoán giai đoạn lâm sàng là cT1N2.

Hình 3. Hình ảnh PET/CT của tổn thương nguyên phát và hạch tăng chuyển hóa FDG (mũi tên vàng) trên các mặt phẳng A) axial, B) coronal và C) sagittal.
BN được chỉ định điều trị bổ trợ trước với 4 chu kỳ Doxorubicin/Cyclophosphamide, sau đó là 4 chu kỳ TCHP (Taxotere/Carboplatin/Herceptin/Perjeta). Tiếp theo, BN được thực hiện phẫu thuật cắt bỏ u bằng hệ thống SAVI SCOUT và sinh thiết hạch cửa. Khối bệnh phẩm phẫu thuật có kích thước 77x19x31mm, giải phẫu bệnh âm tính ở những vùng còn lại. Sinh thiết hạch cửa có kết quả âm tính (0/5), tuy nhiên nhiều hạch bạch huyết cho thấy hiệu quả điều trị bổ trợ trước do có hình ảnh sẹo xơ và vôi hóa khu trú.
Một điểm đáng chú ý là trong quá trình phẫu thuật, phẫu thuật viên đã ghi nhận sự tách biệt rõ rệt về mặt giải phẫu giữa đuôi nách của vú và vùng có tổn thương nguyên phát. Do đó có thể xác định đây là ung thư của mô tuyến vú phụ chứ không phải là ung thư vú phần đuôi nách. Tất cả các diện cắt phẫu thuật đều âm tính (≥ 1mm) và giai đoạn sau phẫu thuật là ypT0N0. BN được chỉ định điều trị bổ trợ với Pertuzumab (KADCYLA).
Cân nhắc chỉ định xạ trị bổ trợ của BN này khác với 2 trường hợp trên do độ tuổi còn trẻ, kỳ vọng sống thêm cao. BN được đưa ra 3 lựa chọn liên quan đến xạ trị: 1) Xạ trị hạch vùng theo chặng, bao gồm hạch nách và hạch thượng đòn, không bao gồm hạch vú trong; 2) Xạ trị vào giường u ở vùng nách, không bao gồm vú phải do có sự tách biệt về giải phẫu giữa ABT và nhu mô vú bình thường; 3) Tăng cường liều vào giường u ở vùng nách. Sau quá trình thảo luận kỹ lưỡng, BN lựa chọn điều trị xạ trị giảm phân liều 4256 cGy/16 phân liều vào hạch vùng nách và hố thượng đòn phải, sau đó tăng cường 1000 cGy/4 phân liều vào giường u ở vùng nách (Hình 4B-D).

Hình 4: A) Hình ảnh X-quang tư thế MLO-CC phải trước phẫu thuật với tổn thương nguyên phát và hạch được khoanh vàng. Kế hoạch điều trị với thể tích bia lập kế hoạch được khoanh màu tím và thể tích tăng cường liều được khoanh màu xanh lơ ở các mặt phẳng B) ngang (axial), C) đứng ngang (coronal) và D) đứng dọc (sagittal).
Tại thời điểm này, BN đã hoàn thành liệu trình xạ trị với độc tính tối thiểu và 16 chu kỳ Trastuzumab. Theo dõi sau 3 tháng điều trị, không ghi nhận tổn thương tăng chuyển hóa ở vùng nách và hố thượng đòn phải trên hình ảnh PET/CT với 18-FDG. Sau 6 tháng theo dõi, trên lâm sàng không ghi nhận tổn thương tái phát hay di căn của bệnh.
BÀN LUẬN
Accessory Breast Tissue – ABT là thuật ngữ bao gồm tình trạng đa vú (supernumerary) và khác thường về mặt giải phẫu (aberrant). Tình trạng đa tuyến vú thường xảy ra trong quá trình phát triển trong bào thai và được tìm thấy dọc theo dây sữa (milk line) chạy hai bên từ nách đến vùng bẹn. Đa tuyến vú xảy ra khi các mô vú phụ không thoái hóa trước khi sinh. Ngoài ra, khác thường (aberrant) là tình trạng mô vú được tìm thấy ở vị trí khác vị trí bình thường và không có hệ thống chế tiết đầy đủ.2 Trong cả 2 trường hợp, vú phụ được xác định là khối độc lập và không có bất kỳ liên hệ nào với vú kinh điển hay vú tại “ngực”. ABT chiếm tỷ lệ khoảng 2-5% trong quần thể và tỷ lệ này thay đổi tùy thuộc nào dân tộc, giới tính, vùng địa lý và phương pháp chẩn đoán.
ABT đã được Kajava mô tả, phân loại chi tiết lần đầu tiên vào năm 1915 và hệ thống phân loại này vẫn được sử dụng rộng rãi đến tận ngày nay với 8 nhóm khác nhau dựa vào sự hiện diện của mô tuyến, núm vú, quầng vú, da và vết lông.1 Nhóm 1 (polymastia): có đầy đủ các đặc điểm của vú bình thường như núm vú, quầng vú và mô tuyến vú. Nhóm 2: có núm vú và mô tuyến, không có quầng vú. Nhóm 3: có mô tuyến và quầng vú, không có núm vú. Nhóm 4: chỉ có mô tuyến vú. Nhóm 5 (pseudomamma): có núm vú và quầng vú, không có mô tuyến vú. Nhóm 6 (polythelia): chỉ có núm vú. Nhóm 7: chỉ có quầng vú. Nhóm 8: không có núm vú, quầng vú hay mô tuyến, chỉ có vết lông. Tất cả 3 trường hợp lâm sàng trên đều được phân vào nhóm 4.
Trong y văn, vẫn còn nhiều tranh cãi về việc liệu có tăng nguy cơ chuyển dạng ác tính ở ABT hay không. Ung thư ở ABT thường xuất hiện ở độ tuổi trẻ hơn so với mô vú ở vị trí bình thường. Một nghiên cứu trên 82 trường hợp ung thư ABT cho thấy độ tuổi trung bình tại thời điểm chẩn đoán là 53,3 trong khi nhóm ung thư vú thành ngực là 61 theo dữ liệu của Viện Ung thư Quốc gia (National Cancer Institute).3 Ngoài ra, BN ung thư ABT có xu hướng biểu hiện ở giai đoạn tiến triển.4 ABT thường không được đưa vào các nghiên cứu và chương trình sàng lọc ung thư thông thường. Tất cả điều này có thể giải thích tại sao BN ung thư ABT thường được phát hiện ở giai đoạn muộn hơn so với ung thư vú kinh điển.
Cho đến hiện tại, hầu hết các nghiên cứu chỉ giới hạn ở việc báo cáo các trường hợp ung thư ABT và chưa có hướng dẫn điều trị nào được đưa ra. Khi thực hiện tra cứu dữ liệu y văn trên PubMed bằng các từ khóa “accessory breast tissue”, “ectopic breast tissue, chúng tôi nhận thấy đa số các nghiên cứu đều đưa ra phương án điều trị là sự kết hợp giữa các phương pháp hóa trị bổ trợ trước, phẫu thuật cắt bỏ, hóa trị bổ trợ, xạ trị và liệu pháp nội tiết. Xạ trị vẫn được khuyến cáo để tối ưu hóa kiểm soát bệnh tại chỗ tại vùng. Năm 2009, nghiên cứu trên loạt ca bệnh của Madej B và cộng sự, liều xạ trị chủ yếu là 5000 đến 6600 cGy với 200cGy/1 phân liều.5 Gần đây hơn, vào năm 2013, Hallam và cộng sự đã ngoại suy từ thử nghiệm UK START B và đề xuất liều 4000 cGy/15 phân liều.6 Tuy nhiên, vẫn chưa có sự đồng thuận nào về kế hoạch điều trị được đưa ra và thể tích chiếu xạ có thể thay đổi rất nhiều giữa các tác giả, bao gồm duy nhất giường u hay bao gồm cả vú bình thường cùng bên, hạch nách và hố thượng đòn kể cả khi không có bằng chứng di căn hạch.
Khi đánh giá các trường hợp đã được báo cáo, để đưa ra hướng dẫn điều trị, chúng tôi phải đối mặt với một số câu hỏi quan trọng sau:
Câu hỏi số 1: Làm thế nào để phân loại được mức độ của phẫu thuật? ABT có thật sự độc lập với vú bình thường ở ngực? Phẫu thuật cắt bỏ ABT đã được xem là phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú (mastectomy) hay chưa? Khi ngoại suy từ các nghiên cứu kinh điển, sau phẫu thuật mastectomy, xạ trị bổ trợ cần được chỉ định trong các trường hợp có hạch di căn, khối u T3-T4 và diện cắt dương tính. Trong các trường hợp điều trị bằng phẫu thuật bảo tồn (lumpectomy), chỉ định xạ trị bổ trợ có thể được bỏ qua ở những trường hợp nguy cơ thấp theo kết quả trong nghiên cứu của Hughes và cộng sự (CALGB C9343)7 (BN ≥ 70 tuổi, giai đoạn I (T1N0M0), ER dương tính) hay thử nghiệm PRIME II8 (BN ≥ 65 tuổi, thụ thể nội tiết dương tính, hạch nách âm tính, u ≤ 3cm, diện cắt âm tính hoặc chỉ có 1 trong 2 đặc điểm: độ mô học 3 hoặc xâm nhập mạch bạch huyết). Nếu xạ trị được xác định như một phần của chiến lược bảo tồn vú, cần xem xét khả năng áp dụng liệu trình xạ trị một phần tuyến vú tăng tốc (accelerated partial breast irradiation – APBI), ví dụ như phác đồ 3000cGy/5 phân liều.9,10 Trong trường hợp chỉ định xạ trị toàn bộ cho ABT, cần cân nhắc và đánh giá tính phù hợp của các phác đồ xạ trị siêu giảm phân liều như 2600 cGy/5 phân liều theo thử nghiệm UK FAST FORWARD, đặc biệt ở các nhóm có nguy cơ phù bạch huyết cao. Ở 2 trường hợp đầu tiên của chúng tôi, giai đoạn của các BN đều là pT1cN0M0, típ lòng ống A và điểm phân tử Oncotype Score thấp. Với những yếu tố trên, cũng như tuổi và toàn trạng của BN, chúng tôi đưa ra một số giải pháp: 1) Xạ trị giảm phân liều vùng nách với phác đồ 4000-4256 cGy/15-16 phân liều ± tăng cường liều 1000-1600 cGy/5-8 phân liều; 2) Xạ trị siêu giảm phân liều 2600 cGy/5 phân liều như trong thử nghiệm UK FAST FORWARD (do ít biến chứng phù bạch huyết hơn phác đồ APBI 3000 cGy/5 phân liều); 3) Liệu pháp nội tiết đơn độc. Có thể bỏ qua chỉ định xạ trị bổ trợ nếu như phẫu thuật cắt bỏ ABT là được xem là phẫu thuật mastectomy hay trong những trường hợp điều trị bằng chiến lược bảo tồn tuyến vú với nguy cơ, tỷ lệ tái phát thấp như trong nghiên cứu CALGB và PRIME II.
Câu hỏi số 2: Các đặc điểm phân tử Oncotype Scores có thể có giá trị trong hướng dẫn điều trị ung thư ABT? Vấn đề này đang trong quá trình được làm rõ ở các thử nghiệm MA-3911 và DEBRA12. Trường hợp đầu tiên của chúng tôi nếu biểu hiện ung thư ở vú bình thường thay vì ở ABT thì sẽ là ứng viên cho thử nghiệm DEBRA.
Câu hỏi số 3: Trong trường hợp bệnh tiến triển tại chỗ tại vùng như trong trường hợp số 3, thể tích bia tối ưu sẽ bao gồm những vị trí nào? Vùng hạch nào cần đưa vào thể tích bia? Có cần tăng cường liều vào giường u hay không? Trường hợp số 3 của chúng đôi được chẩn đoán ở giai đoạn cT1cN2, hạch dương tính được xác định bằng sinh thiết, hạch nách nhóm III và hạch thượng đòn đều tăng chuyển hóa bất thường trên PET. Mặc dù bệnh đáp ứng hoàn toàn sau hóa trị bổ trợ trước, BN này vẫn được xem như thuộc nhóm nguy cơ cao và xạ trị bổ trợ được chỉ định cho cả giường u và hạch vùng. Tương tự như những trường hợp khác, vú bình thường tại ngực không được đưa vào trường chiếu xạ do không có sự liên hệ về mặt giữa phẫu giữa chúng và ABT đã được cắt bỏ. Ngoài ra, hạch vú trong cũng không được đưa vào trường chiếu xạ do nguy cơ lan tràn ung thư từ ABT theo con đường này cực kỳ thấp. Vì độ mô học và Ki-67 ban đầu của khối u cao, sau khi trao đổi kỹ với BN, chúng tôi đã đi đến thống nhất sẽ tăng cường liều vào khối u, chấp nhận nguy cơ phù bạch huyết tăng lên.
KẾT LUẬN
Khi đưa ra quyết định điều trị cho những bệnh nhân này, chúng tôi phải đối mặt với những câu hỏi không có câu trả lời từ những dữ liệu hiện có. Do tính chất hiếm của bệnh, trong tương lai sẽ có rất ít cơ hội để thực hiện các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên quy mô lớn để hướng dẫn cho các nhà lâm sàng. Chúng tôi hy vọng các nghiên cứu báo cáo loạt ca bệnh và điểm lại y văn như nghiên cứu này ít nhất có thể cung cấp những góc nhìn căn bản nhất trong quyết định lựa chọn điều trị cho những trường hợp đầy thách thức này. Theo hiểu biết của chúng tôi, đây là báo cáo đầu tiên mô tả tính khả thi của phương pháp xạ trị với ung thư biểu mô ABT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Kajava Y. The proportions of supernumerary nipples in the Finnish population. Duodecim. 1915;31:143-170. Accessed June 11, 2022. https://www.scienceopen.com/document?vid=0e2368fe-6e58-424f-9685-15b27c323485
- Laor T, Collins MH, Emery KH, Donnelly LF, Bove KE, Ballard ET. MRI appearance ofbaccessory breast tissue: a diagnostic consideration for an axillary mass in a peripubertal or pubertal girl. Am J Roentgenol. 2004;183(6):1779-1781. doi:10.2214/ajr.183.6.01831779
- Francone E, Nathan MJ, Murelli F, Bruno MS, Traverso E, Friedman D. Ectopic breast cancer: case report and review of the literature. Aesthetic Plast Surg. 37(4):746-749. doi:10.1007/s00266-013-0125-1
- DeFilippis EM, Arleo EK. The ABCs of accessory breast tissue: basic information every radiologist should know. Am J Roentgenol. 2014;202(5):1157-1162. doi:10.2214/AJR.13.10930
- Madej B, Balak B, Winkler I, Burdan F. Cancer of the accessory breast – a case report. Adv Med Sci. 2009;54(2):308-310. doi:10.2478/v10039-009-0031-6
- Hallam S, Aggarwal A, Predolac D, Cunnick G, Ashford R. Primary ectopic breast carcinoma in a supernumerary breast arising in the anterior chest wall: a case report and review of the literature. J Surg Case Rep. 2013;2013(12):rjt107. doi:10.1093/jscr/rjt107
- Hughes KS, Schnaper LA, Bellon JR, et al. Lumpectomy plus tamoxifen with or without irradiation in women age 70 years or older with early breast cancer: long-term follow-up of CALGB 9343. J Clin Oncol. 2013;31(19):2382-2387. doi:10.1200/JCO.2012.45.2615
- Kunkler IH, Williams LJ, Jack WJ, Cameron DA, Dixon JM; PRIME II investigators. Breast-conserving surgery with or without irradiation in women aged 65 years or older with early breast cancer (PRIME II): a randomised controlled trial (published correction appears in Lancet Oncol. 2015;16(3):e105). Lancet Oncol. 2015;16(3):266-273. doi:10.1016/S1470-2045(14)71221-5
- Livi L, Meattini I, Marrazzo L, et al. Accelerated partial breast irradiation using intensity-modulated radiotherapy versus whole breast irradiation: 5-year survival analysis of a phase 3 randomised controlled trial. Eur J Cancer. 2015;51(4):451-463. doi:10.1016/j.ejca.2014.12.013
- Formenti SC, Gidea-Addeo D, Goldberg JD, et al. Phase I-II trial of prone accelerated intensity modulated radiation therapy to the breast to optimally spare normal tissue. J Clin Oncol. 2007;25(16):2236-2242. doi:10.1200/JCO.2006.09.1041
- Parulekar WR, Berrang T, Kong I, et al. Cctg Ma.39 tailor RT: a randomized trial of regional radiotherapy in biomarker low-risk node-positive breast cancer (NCT03488693). J Clin Oncol. 2019;37(15_suppl). doi:10.1200/jco.2019.37.15_suppl.tps602
- White JR, Anderson SJ, Harris EE, et al. NRG-BR007: a phase III trial evaluating de-escalation of breast radiation (DEBRA) following breast-conserving surgery (BCS) of stage 1, hormone receptor+, HER2-, rs ≤18 breast cancer. J Clin Oncol. 2022;40(16_suppl). doi:10.1200/jco.2022.40.16_suppl.tps613
