NADIM II: Hoá trị + Liệu pháp miễn dịch trong điều trị tân bổ trợ ung thư phổi

bởi Trần Trung Bách
465 lượt xem

GS. M. Provencio – Trưởng nhóm nghiên cứu

Giới thiệu

Kết hợp hoá trị cùng liệu pháp miễn dịch trong chiến lược tân bổ trợ đang trở thành chuẩn mực mới trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm. Tuy nhiên, những thử nghiệm đã tiến hành trước đó đều sử dụng tỷ lệ đáp ứng trên mô bệnh học (Bệnh phẩm mổ) làm chỉ tiêu đánh giá chính, dựa trên những bằng chứng vững vàng cho thấy mối liên quan giữa giá trị này với kết cục sống thêm trong các nghiên cứu về hoá trị tân bổ trợ. Dữ liệu từ thử nghiệm IFCR IONESCO và gần đây là CheckMate 816 có thể xác nhận giả thiết này.

Trong một nghiên cứu dưới đây, NADIM II, các kết quả sống thêm quan trọng đã được báo cáo.

Phương pháp

Thử nghiệm pha II, ngẫu nhiên theo tỷ lệ 2:1, tuyển chọn các bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIA-B có thể phẫu thuật, EGFR và ALK hoang dại, so sánh hoá trị tân bổ trợ paclitaxel + carboplatine (3 chu kỳ) với chiến lược kết hợp cùng phác đồ hoá trị trên cùng Nivolumab (360 mg) mỗi 3 tuần trong 3 chu kỳ. Phẫu thuật được thực hiện từ ngày thứ 42 đến 49 tính từ ngày 1 của chu kỳ hoá trị đầu tiên.

Những trường hợp đạt được phẫu thuật R0 sẽ tiếp tục liệu trình duy trì Nivolumab đơn thuần trong 6 tháng ở nhánh thử nghiệm hoặc bước vào lộ trình theo dõi ở nhánh điều trị tiêu chuẩn.

Chỉ tiêu chính: Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học.

Chỉ tiêu phụ: Sống thêm toàn bộ, sống thêm không bệnh, độc tính, tỷ lệ trì hoãn hay huỷ kế hoạch phẫu thuật, giá trị của một số dấu ấn sinh học.

Kết quả

57 bệnh nhân tham gia nghiên cứu ở nhánh thử nghiệm và 29 bệnh nhân ở nhánh điều trị chuẩn, với các đặc điểm lâm sàng cân bằng.

Trong nhánh thử nghiệm với liệu pháp miễn dịch, 93% bệnh nhân được phẫu thuật thành công, kết quả này ở nhánh hoá trị đơn thuần là 69 % (OR=5,96 CI95% 1,65-21,56; p=0,00807).

Đáng chú ý hơn, tỷ lệ R0 trong số những ca mổ thành công được ghi nhận 92,5% ở những bệnh nhân được phối hợp hoá trị cùng Nivolumab, so với 65% ở nhánh điều trị tiêu chuẩn (OR 6,60 CI95% 1,67-26,02; p=0,007).

Kết quả giảm giai đoạn (Down Staging) đạt được ở 69,8% và 40% bệnh nhân lần lượt tương ứng ở nhánh thử nghiệm và nhánh điều trị tiêu chuẩn (OR 3,47 CI95% 1,19-10,1; p=0,04).

Dữ liệu PFS và OS được trình bày ở các biểu đồ dưới đây:

Bàn luận

Kết quả NADIM II như xác nhận tiềm năng lớn của liệu pháp miễn dịch ở vai trò tân bổ trợ, cho phép đưa 93% bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIA-B đến cuộc mổ thành công (R0 trong gần như tất cả trường hợp được phẫu thuật) với mục tiêu hạ giai đoạn đạt được ở 2 trên 3 bệnh nhân. Những dữ liệu về sống thêm không tiến triển và sống thêm toàn bộ cũng rất ủng hộ chiến lược kết hợp liệu pháp miễn dịch.

Kết quả đáng chú ý nhất khi ở giai đoạn bệnh này, sau thời gian theo dõi 26 tháng, không có trường hợp tái phát nào được báo cáo ở những bệnh nhân có đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học (Kết quả này có thể cộng hưởng bởi lợi ích của duy trì Nivolumab).

Thử nghiệm NADIM sử dụng phân loại TNM phiên bản 8, tuy nhiên, giai đoạn IIIA-B vẫn thiếu tính đồng nhất. Bên cạnh đó, việc thử nghiệm được thực hiện tại 20 trung tâm ung thư hàng đầu Tây ban Nha, là một điểm chú ý khi áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực hành lâm sàng hàng ngày. Lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu, cần nhấn mạnh, luôn luôn là quyết định của hội chẩn tiểu ban đa chuyên ngành.

Link bài viết gốc.

Những bài viết liên quan

Để lại bình luận

Quý độc giả lưu ý: Chuyên trang có các nội dung dành riêng cho NHÂN VIÊN Y TẾ.
Tôi đã hiểu và đồng ý truy cập nội dung