PHÁC ĐỒ NÀO THỰC SỰ TỐT CHO UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN SỚM THỂ TAM ÂM?

bởi Trần Kiến Bình
710 lượt xem

Hoá trị gây độc tế bào vẫn là liệu pháp toàn thân hiệu quả nhất cho ung thư vú thể tam âm (Triple Negative Breast Cancer – TNBC). Các phác đồ thế hệ thứ ba bao gồm Anthracycline và Taxane luôn được xem xét ưu tiên và đã cho thấy cải thiện được kết cục khi so sánh với các phác đồ chỉ có Anthracycline hoặc Taxane đơn độc. Hướng dẫn NCCN hiện hành cũng khuyến cáo rằng nên hóa trị cho tất cả bệnh nhân TNBC với khối u trên 1cm.

LIỆU PHÁP TÂN HỖ TRỢ

Hoá trị tân hỗ trợ có thể cải thiện được kết quả phẫu thuật cũng như cho phép bác sĩ đánh giá đáp ứng với điều trị. Nền tảng điều trị của TNBC là hóa trị, đặc biệt là phác đồ dựa trên Anthracycline và Taxane. Đã có hai nghiên cứu lớn được tiến hành nhằm xác định hiệu quả của phác đồ hoá trị tân hỗ trợ có chứa Platinum trong TNBC. Thử nghiệm GeparSixto phân ngẫu nhiên các bệnh nhân TNBC giai đoạn II và III chưa điều trị được nhận Paclitaxel và Liposomal Doxorubicin kèm hoặc không kèm với Carboplatin. Tỉ lệ pCR đạt được với Carboplatin là 53,2% so với 36,9% nếu không có Carboplatin [1]. Nghiên cứu CALBG 40603 so sánh hiệu quả trên bệnh nhân TNBC giai đoạn II và III chưa điều trị bằng Paclitaxel có kèm hoặc không kèm với Carboplatin theo sau bởi AC liều dày có kèm hoặc không kèm với Bevacizumab. Việc bổ sung Carboplatin đã cho thấy làm gia tăng tỉ lệ pCR; tuy nhiên, việc thêm vào Carboplatin hoặc Bevacizimab không làm cải thiện hiệu quả dài hạn [2].

Mặc dù việc sử dụng Platinum thường quy không được khuyến cáo bởi các hướng dẫn hiện hành, nhưng nó có thể hữu ích trên những bệnh nhân nguy cơ cao mà tối ưu việc kiểm soát tại chỗ tại vùng trên các bệnh nhân này được xem như tối quan trọng. Khi đưa ra quyết định cá nhân hoá cho vấn đề bổ sung Carboplatin vào phác đồ dựa trên Anthracycline và Taxane, việc xem xét các độc tính là rất quan trọng do tác dụng phụ sẽ gia tăng khi Carboplatin được thêm vào.

Dù rằng liệu pháp miễn dịch chưa thể hiện được nhiều tác động trên tất cả các phân nhóm UTV, tuy nhiên các thử nghiệm về liệu pháp miễn dịch trên TNBC đã cho thấy nhiều hứa hẹn. Thử nghiệm KEYNOTE-522 nghiên cứu hiệu quả của kháng thể đơn dòng kháng PD-1 (protein chết tế bào theo lập trình 1) Pembrolizumab trên phụ nữ TNBC giai đoạn sớm. Các bệnh nhân TNBC giai đoạn II và III chưa điều trị được phân ngẫu nhiên để nhận liệu pháp tân hỗ trợ bằng 4 chu kỳ Paclitaxel và Carboplatin kết hợp với Pembrolizumab hoặc giả dược theo sau bởi 4 chu kỳ Pembrolizumab hoặc giả dược. Bệnh nhân ở cả hai nhóm đều được nhận AC hoặc Epirubicin và Cyclophosphamide (EC). Tổng cộng 64,8% bệnh nhân được sử dụng Pembrolizumab với hoá trị đạt được pCR so với 51,2% trên những bệnh nhân ở nhóm giả dược – hoá trị. Với khoảng thời gian theo dõi trung vị là 15,5 tháng, 7,4% bệnh nhân ở nhóm Pembrolizumab – hoá trị và 11,8% bệnh nhân ở nhóm giả dược – hoá trị tiến triển, tái phát tại chỗ tại vùng hoặc di căn xa, mắc khối u nguyên phát thứ hai hoặc tử vong do bất kỳ nguyên nhân nào [3].

Mặc dù liệu pháp miễn dịch gần đây chưa được chấp thuận bởi FDA cho điều trị TNBC giai đoạn sớm, nhưng ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy tiềm năng cải thiện kết cục của tác nhân này.

LIỆU PHÁP HỖ TRỢ

Việc sử dụng các phác đồ dựa trên Anthracycline và Taxane trong bối cảnh hỗ trợ đã được thiết lập. Tuy nhiên, cho đến hiện tại, vẫn chưa biết được rằng có nên áp dụng liệu pháp toàn thân nào cho những bệnh nhân được điều trị liệu pháp tân hỗ trợ nhưng không đạt được pCR sau phẫu thuật hay không.

Thử nghiệm CREATE-X chọn ngẫu nhiên các bệnh nhân UTV xâm nhập HER-2 âm tính còn bệnh tồn lưu sau hoá trị tân hỗ trợ với Anthracycline và/hoặc Taxane nhận liệu pháp sau phẫu thuật tiêu chuẩn kèm hoặc không kèm với Capecitabine. DFS tại thời điểm 5 năm là 74,1% so với 67,6% ở nhóm Capecitabine với nhóm đối chứng, tương ứng. Phân tích dưới nhóm trong số những bệnh nhân TNBC, DFS ở nhóm Capecitabine là 69,8% so với 56,1% ở nhóm đối chứng. OS cũng được cải thiện ở nhánh Capecitabine (78,8% so với 70,3%) [4].

Thêm vào đó, một phân tích tổng hợp năm 2019 đã cho thấy DFS và OS được cải thiện trong số những bệnh nhân TNBC giai đoạn sớm được điều trị với Anthracycline và/hoặc Taxane nhận được Capecitabine hỗ trợ [5].

Các hướng dẫn của NCCN và ASCO khuyến cáo nên xem xét 6 đến 8 chu kỳ Capecitabine hỗ trợ cho bệnh nhân TNBC và còn bệnh tồn lưu sau hoá trị tân hỗ trợ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. von Minckwitz G., Schneeweiss A., Loibl S. et al. Neoadjuvant carboplatin in patients with triple-negative and HER2-positive early breast cancer (GeparSixto; GBG 66): a randomised phase 2 trial. Lancet Oncol. 2014;15(7):747-756.

2. Sikov W.M., Polley M-Y, Twohy E. et al. CALGB (Alliance) 40603: long-term outcomes (LTOs) after neoadjuvant chemotherapy (NACT) +/- carboplatin (Cb) and bevacizumab (Bev) in triple-negative breast cancer (TNBC) [abstract]. J Clin Oncol. 37(15 suppl):591.

3. Schmid P., Cortes J., Pusztai L. et al. Pembrolizumab for early triple negative breast cancer. N Engl J Med. 2020;382:810-821.

4. Masuda N., Lee S-J, Ohtani S. et al. Adjuvant capecitabine for breast cancer after preoperative chemotherapy. N Engl J Med. 2017;376:2147-2159.

5. Li Y., Zhou Y., Mao F. et al. Adjuvant addition of capecitabine to early-stage triple-negative breast cancer patients receiving standard chemotherapy: a meta-analysis. Breast Cancer Res Treat. 2020;179(3):533-542.

BS. TRẦN KIẾN BÌNH

Những bài viết liên quan

Để lại bình luận

Quý độc giả lưu ý: Chuyên trang có các nội dung dành riêng cho NHÂN VIÊN Y TẾ.
Tôi đã hiểu và đồng ý truy cập nội dung